3. 3
5. Truyện hư cấu:
- "Bẫy cọp" của Trần Tiên đã phản ánh qúa trình đấu tranh một mất một còn giữa làng và con cọp ba móng như đã thành tinh. Bẫy chông thuốc độc chẳng còn hiệu nghiệm. Người đặt bẫy cọp cũng đã rớt xuống đất làm mồi vì tiếng cọp rống. Đứa con gái thầy Cả Nhiêu được bỏ củi làm bẫy cọp vì cha mình giơ tay "biểu quyết" nhưng nó đã chết vì tiếng gầm của cọp. Cọp lại không bao giờ ăn thịt người chết. Cuối cùng, thầy Cả Nhiêu đã dùng thân mình làm "bẫy cọp": "xác thầy Cả Nhiêu bị phanh thành nhiều mảnh nằm rải rác trên đám cỏ, bụi cây. Cạnh đó, xác ngài ba móng sùi bọt mép, mắt trợn ngược, nằm thõng thượt bất động... Bây giờ người ta mới biết... thầy dày công tìm tòi, chắt lọc, chưng cất một thứ độc dược nồng độ cao nhất. Thầy dẫn dụ ngài ba móng đến gần bằng tiếng đàn kỳ diệu của mình. Rồi đợi đến thời điểm quyết định nhất, ấy là lúc ngài đói mồi, liên tục quật đuôi phầm phập xuống đất, thầy ngửa cổ tu một hơi cạn chai độc dược cực mạnh và từ từ gục xuống... Chỉ đợi có thế, ngài ba móng lao vụt tới chồm lên người thầy, thả sức cắn, xé, nuốt..." (lmvn.com/truyen). Hy sinh con gái mình cho cọp? Một sư hy sinh vô nghĩa. Cả một cái làng bao nhiêu trai tráng, cuối cùng phải dùng "hạ sách" phi nhân. Người ta cười Việt Vương Câu Tiễn nước Việt hèn đến mức phải dùng "mỹ nhân kế" hy sinh Tây Thi để diệt Ngô Vương - Phù Sai. Người ta không đồng tình việc vua Trần Nhân Tông và Anh Tông hiền đức nhưng lại... tham chỉ vì hai Châu Ô và Châu Lý của Chiêm Thành mà phải hy sinh Huyền Trân công chúa. Nguyên Đế vì mối ban giao giữa Hán và Hung nô (Hồ) mà hy sinh Vương Tường - Vương Chiêu Quân. Đó là chuyện có thật. Còn truyện "Bẫy cọp" chỉ là hư cấu nhưng dùng người làm mồi cho cọp thật… khiếp!. Hy sinh mạng người cho thần, thánh (cúng nữ đồng trinh... ), vua, chúa (hỏa thiêu, chôn sống), cọp (cọp ăn) gì cũng bị coi là "tiền sử”, dã man cả.
- "Cọp Bầu Lòng - Võ Tòng Tân Khánh" của Lưu Linh Tử kể về hai ông Ất và Giá đánh cọp: "cọp nằm ngửa. Theo mấy thầy nghề võ nói lại thì đó là miếng " trâu vằng " miếng tổ của cọp. Ai sơ xuất nhảy vào thì chết. Roi đánh vào thì bị cọp bắt roi, tiện dịp cho cọp đoạt roi, móc họng địch thủ. Ông Giá thấy cọp thủ thế trâu vằng. Ông cũng không thèm đánh nữa, đứng chống roi nghỉ cho khỏe. Một hồi lâu, cọp không thấy ông Giá phá miếng nghề của mình và cọp cũng nghỉ mệt xong, hộc lên một tiếng rồi nhảy trở vô vòng chiến đấu. Ông Giá vung roi đánh tiếp… Lúc sau, cọp lại mệt bèn dùng miếng cũ, nằm ngửa thủ thế trâu vằng. Ông Giá chống roi đứng chờ tái chiến…Lần này, chờ cũng không thấy ông Giá phá miếng trâu vằng, cọp lại trở mình phóng vào vòng chiến đấu. Phen này ông Giá đánh rất kịch liệt, roi loang nghe vo vo, lúc đánh trật, roi lún xuống đất, bụi cát tung bay, và không bao lâu người ta nghe tiếng cọp rống thật to và vọt một cái ra ngoài vòng chiến toan chạy về rừng. Nhưng, người ta nghe cọp rống thêm một tiếng nữa to hơn và dài hơn, nhìn lại thấy ông Ất đang đứng bên xác cọp, cọp còn vặn mình sắp chết. Tất cả mọi người đều không thấy ông Ất đánh cọp. Nhưng ông Ất đã độ được đường rút lui của cọp, nên lúc cọp phóng vào rừng, hướng ông Ất đang đứng, ông bèn chống roi phóng mình ra chận đầu đánh một roi là cọp hết đường tránh né và chịu chết dưới ngọn roi ngàn cân của ông" (thaibinhthoiquan, chimviet.free.fr). Truyện này cho chúng ta chút kiến thức về cách cọp đánh và đánh cọp như thế nào nhưng có ai thấy cọp… nằm ngửa chờ địch thủ bao giờ? Nhưng có một loại cọp thích “nằm ngửa” chờ đợi… thiệt đó a! Cọp này không đập mà còn phải… cho thêm tiền mới ngon chứ!
- "Cọp về làng" của Huỳnh Thạch Thảo hư cấu về chuyện cọp cái tìm về đồng để đẻ thì bị bắn và cọp chồng trả thù: "Tiếng nổ nhoáng nhoàng, âm âm bùng vỡ sau hai bóng đen phóng ra thì "pằng, pằng... canh canh canh" - Hai khẩu trung liên nổ dồn, quất rát xoáy tung đất cỏ lơ lửng trên caọ Con vật thứ nhất rơi xuống, bật dậy ngay lúc lảo đảo đã gầm thét: "um... um... um" vang vọng và như tia chớp nó lao vụt đi lúc con thứ hai bị hất ngược trở lại và khẩu súng trung liên điểm nhịp để nó gục ngã. Tất cả im lìm, nín thở chờ đợi con vật vấy máu vùng lên; nhưng không, với thân trước cúi gập trong tư thế quỳ lỗ chỗ đạn và chân sau gãy nát, nó đã chết. Và mọi người thêm một phen hoảng hốt kể cả đám lính đang ngồi thở phì phào phải bung mình nằm rạp khi thấy chiếc đầu ngọ nguậy cùng đôi chân trước gãy gập từ từ xòe rộng, bên trong chú cọp con lông còn ướt đang ngơ ngác bò ra ngóng mắt nhìn xung quanh. Mọi người ồ lên. Gã đồn trưởng quên cả sợ lao đến chụp vội khi nó còn nép sát bụng mẹ. Già Lê lại thì thào: "Rừng động, cọp về làng, kiếm chỗ đẻ, đâu ngờ....Mọi người sững người khi đồ đạc trong đồn vung vãi, những vũ khí từng làm kinh hoàng ngã chổng kềnh gãy gục. Tấm da con cọp mẹ vẫn đẫm máu bị xé nát tơi tả và sợi dây dù buộc cọp con bị giằng đứt đong đưa theo gió. Gã lính ngồi bệch bên ngoài buột miệng: "Thằng Thành vậy mà may, nó chở thịt xương về dưới phố, thoát - khi bọn này vừa nghỉ tay hút chưa hết điếu thuốc, nó đã xông vào quờ chân qua lỗ châu mai tát hụt ông đồn trưởng làm ổng bổ nhào, tụi tôi vơ súng nện loạn xạ rồi phóng ra ruộng, bỏ tất. Sau lưng, ông đồn trưởng tung lựu đạn nổ rền để cắm đầu lao theọ Dễ sợ, thà đi hành quân...". Chiếc điện thoại cơ động F.M cong cần đang phát tín hiệu - Gã lính thông tin cầm lấy - Một chốc thì mặt tái dại quay lại nói với mọi người: "Thằng Thành bị cọp vồ chết ở chân cầu ngã ba làng..." (vantuyen.net). Bị giết và trả thù biết đến bao giờ? Truyện động lại trong chúng ta nỗi man mác, ngậm ngùi...
- "Tấm da cọp" của Nguyễn Một kể về câu chuyện thằng bé Dần có tấm da cọp. Đó là tấm da cọp mà cha nó (Chín Tâm) tặng mẹ nó (Nồng) sau khi hạ con cọp hung dữ đã ăn thịt những người đi tìm trầm kỳ kiếm ăn trong rừng Dùi Chiêng (có phải Dùi Chiên thuộc xã Trung Phước, huyện Quế Sơn - Quảng Nam chăng?). Tấm da cọp ấy đánh đổi bằng máu thịt của Chín Tâm: "Lúc này cọp đổ vật xuống suối, tắt thở . Tuy nhiên những móng vuốt sắc nhọn của bàn chân trước cũng đã kịp cắm phập vào bả vai của anh kéo theo mảng thịt... Con cọp được xẻ thịt chia cho mọi người . Tâm được quyền giữ tấm da cọp theo luật của các phường săn . Các phường săn tôn vinh anh là thủ lĩnh của họ. Từ đó Tâm bỏ nghề tìm trầm và sống bằng nghề săn cọp, anh nhanh chóng nổi tiếng khắp vùng nhờ lòng can đảm và sự mưu trí. Khi núi rừng yên tĩnh trở lại, cha con cô Nồng đóng đủ số dầu rái và thả bè về xuôi. Chín Tâm tặng cho cô Nồng tấm da cọp đầu tiên mà anh săn được, tấm da ấy có người trả đến mấy lượng vàng, anh không bán . Về đồng bằng ít lâu sau cô Nồng sanh thằng Dần". Thằng Dần đi tìm cha nó và hai mươi năm rồi nó vẫn không trở về. Căn nhà xưa chỉ còn mẹ nó và... tấm da cọp. (thuvien.maivoo.com). Truyện cảm động dù cho có tìm cách lồng vào lý do vì sao cọp ăn thịt người: "Trước đây cọp không ăn thịt người, chỉ từ hôm máy bay Mỹ ném bom xuống núi Chúa làm chết cả buôn làng người dân tộc, cọp ăn thịt, bén mùi mới săn người" . Cũng như hai truyện "Cọp ba móng" ở trên, tác giả vẫn cứ lý giải vì máy bay Pháp bắn bừa bãi, xác "địch" đầy núi không kịp chôn, không kịp lấy nên cọp ăn xác người quen mùi nên ăn thịt. Đây là lý giải theo kiểu thêm chút "đánh Pháp, đánh Mỹ" vào thì truyện mới sống kiểu văn học cách mạng từ 1945 đến nay. Loại văn học này không thể có tính thời gian! Lạ thay! Chẳng có một truyện nào về cọp ăn thịt người là do... lính Trung Quốc giết người 6 tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979 - 1984? Phải chăng mảng văn học về một sự thật lịch sử này không bén rễ nổi trong văn học cách mạng Việt Nam?
- "Người đàn bà tuổi Dần" của Nguyễn Khắc Phước (ngkhacphuoc.vnweblogs.com): Kể chuyện về người đàn bà tuổi Dần tên Lê Thị Đảnh sống trong thời kỳ bao cấp nghèo khổ với cái gọi là "hợp tác xã" (vòng công đổi công): "Trai gái trong làng cỡ tuổi tôi lần lượt lập gia đình hết, riêng tôi không ai ngó ngàng đến vì họ sợ tuổi Dần. Tôi ghét thằng cha nào ngày xưa bày đặt bắt con người phải cầm tinh con vật. Con người mang tuổi vật vậy con vật mang tuổi gì? Cái thời con người và con vật sống bên nhau ấy đã xa lắc xa lơ rồi. Ngày xưa thời còn ăn lông ở lổ, cọp nhởn nhơ đầy rừng và giết người lấy thịt, còn bây giờ người ta giết cọp sạch trơn, chẳng thấy một con, thế mà con người vẫn sợ cọp, đặc biệt là cọp cái, mới lạ".. Cô ăn cắp lúa lép cho vịt ăn bị Sáu Dư (vợ hai con) đội trưởng bắt được. Thị cởi quần vu oan Sáu Dư hiếp dâm nên Sáu Dư bỏ chạy. Với quan niệm "Tôi nghe như mở cờ trong bụng, làm thinh giả bộ không nghe, đoán biết hắn đã thấy cái gì hôm đó rồi, mà thấy thì không thể không thèm. Hắn cũng tuổi Dần như tôi, mà cọp thì thường trở lại bắt con mồi vồ trượt", thị Đảnh "chủ động" với Sáu Dư. Việc bị vợ Sáu Dư phát giác. Sáu Dư mất chức nên bỏ đi sau đó trở về với tấm "thân tàn". Vợ Sáu Dư có mang nhưng không phải con của Sáu Dư. Người đàn bà "tuổi Dần" vì "ăn cắp thóc lép cho vịt ăn" mà "chủ động" làm tình kiểu ấy thì thành "tuổi Dê" mà không biết "tủi Hổ".
- "Huyền thoại về con cọp trắng" của Hồ Tĩnh Tâm (hotinhtam.vnweblogs.com): Chuyện kể về dân Nghi Hồng thường đi cửi trên núi Cấm có nhiều cọp. Cô Mùi đẹp nhất làng đi lấy củi rồi mất tích. Sau đó, làng mất nồi niêu và bố cô Mùi ban đêm nghe tiếng kêu cứu và thấy bóng trắng. Ngỡ là ma nên dân làng phục kích bóng trắng và bắn cung. Khi đuổi tới núi Cấm theo dấu máu, họ tìm được cái hang. Vào trong hang thì thấy cọp trắng sắp chết. Trong tay cọp là hai mẹ con cô Mùi. Cọp trắng thấy người đến thì liếm vào trán đứa bé mới sinh rồi chết. Chuyện người lấy cọp ở trên giống như người lấy chồn hay giống rồng lấy giống tiên như trong "Lĩnh Nam chích quái" (của Trần Thế Pháp do Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại) chẳng bao giờ có thật nhưng để cho chúng ta khái niệm một ý nghĩa dù vật hay người cũng đều là sinh vật sống: Biết cảm xúc và có trách nhiệm.
- "Chuyện cọp ở Quảng Nam": Có ông Xã Nhược đánh hai cọp chết nhăn răng hay cọp An Bằng, Đại Lộc do Nguyễn Hữu Đăng Đạt kể (scribd.com).
Cọp làm người ta sợ rồi thờ cúng khắp nơi, cũng như từ xưa hễ ai bị xe cán chết nơi nào là lập miếu thờ nơi ấy.
- "Cọp Mường Hịch" (Phía sau bài thơ Tây tiến): Nhạc sĩ Quang Vinh (con trai nhà thơ Quang Dũng) kể rằng cha mình cứ bần thần với câu thơ: "Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người" nên hỏi con trai. Quang Vinh: "ra vẻ con nhà nòi...“phán” bừa một câu rằng: “Con thấy câu Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người nghe nó cứ “chối” thế nào. Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá”… Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do, Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Trong một lần hành quân, đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch, gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác. Thấy bộ đội có súng nên một số người dân ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ, khỏe mạnh, mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy, còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về. Nửa đêm, dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già, rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn, gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về, người ngợm ướt đẫm sương. Mãi sau này người ta mới biết, lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả, Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy, suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình" (hungyen24h.vn).
Cọp làm người ta mếu máo nhưng cọp cũng mang lại cho người "nụ cười hơn mười thang thuốc bổ".
6. Truyện cười:
- "Cọp xay lúa"- Bác Ba Phi (xitrum.net): Một con cọp cái rình anh nhà quê xây lúa. Anh nhử cọp bắt được nó và bắt nó xây lúa tối tăm mặt mày. Khi người vợ thương tình cọp cái có mang nên bảo chồng tha. Được thoát nạn, cọp cái mất hồn nên nhảy vào rừng trốn mất dạng! Truyện cười ẩn chứa "lòng trắc ẩn" của con người.
- "Đổ nước sôi lên đầu cọp" trong "Cọp trong truyện dân gian Nam Bộ": Kể về người phụ nữ tạt nước sôi lên đầu cọp mà không biết đó là con cọp. Khi biết đó là cọp, chị mất hồn vía và trách ông anh chồng không nói cho mình biết: "Ông anh chồng biết rõ nếu nói là cọp thì người em dâu sẽ mất bình tĩnh, có khi lâm nguy nên gạt: 'Thiếm có thấy con chồn trên bờ rạch không” và biểu lấy nồi nước sôi đổ lên đầu nó. Vốn chưa bao giờ gặp cọp, gặp chồn không biết nó là giống chi nên người phụ nữ nọ mới làm y như lời dặn, và kết quả con cọp bị phỏng nước sôi, ù chạy. Câu chuyện kết luận theo kết cấu tiếu lâm “Hồi nảy nếu tui cho thiếm biết là cọp thì thím đâu có can đảm mà vụt nước sôi lên đầu nó”. (vn.myblog.yahoo.com).
Đây cũng giống như chuyện:
- "Đánh cọp tưởng chó" trong dân gian: Hai anh chàng cùng sợ cọp nhưng chưa bao giờ thấy cọp, lên rừng bứt mây. Vừa tới bìa rừng thì thấy con chó rượt một ông làm rẫy chạy có cờ. Hai anh chàng sẵn hai cây đòn gánh gánh mây bèn lao vào chặn cọp và quất tới tấp. Con “chó” kinh hãi vì bị đánh bất ngờ nên hoảng sợ và đâm đầu bỏ chạy. Ông làm rẫy thoát chết, mặt mày tái ngắt như trái mồng tơi, mồm lập bập cám ơn hai chàng hiệp sĩ võ nghệ cao cường đánh… chó: "Không có hai chú em thì tui đây bị... cọp ăn thịt rồi!". Nghe ông già nói con chó vừa rồi là cọp, hai anh nọ run cầm cập và... vãi ra quần". Truyện cười thú vị rằng nếu chúng ta thật bình tĩnh thì gặp sự cố nào cũng có thể hóa giải kể cả gặp cọp.
- Tuột da lão Hảo": "Ở các nơi gần rừng núi, cọp thường ra chơi cùng các em mục đồng. Ðôi bên coi nhau như người trong tứ hải, có gì ngon đều chia nhau. Một hôm em bé chơi nghịch lấy tay bóp dái cọp chúa đàn. Ðau điếng ruột, cọp thét lên một tiếng, bỏ chạy về núi một hơi. Cả bầy thất kinh, ùn ùn chạy theo hết. Từ ấy không còn dám làm thân cùng người nữa, và hễ thấy người thì nguýt một cái rồi tránh xa. Cọp hiền là do thủy thổ. Cũng như người, cọp “dĩ hòa vi quý”. Bởi vậy, tuy xứ nhiều cọp, cổ nhân vẫn xem mặt đặt tên: Khánh Hòa. Vì cọp hiền nên Khánh Hòa ít bị hổ hoạn. Năm khi mười họa, nếu có kẻ bị rủi ro thì tiếng đồn khắp tỉnh. Như ở Vạn Ninh, ngày xưa có một ông tiều tục gọi là lão Hảo, bị cọp tại đèo Dốc Thị chụp tuột da đầu. Nếu sự việc xảy ra ở Phú Yên hay Bình Ðịnh, thì rồi là rồi, vì thường quá. Nhưng ở Khánh Hòa, cọp chụp người là chuyện hi hữu, nên địa phương mới có câu “Tuột da lão Hảo”, truyền cho đến ngày nay" ("Xứ Trầm Hương" - Quách Tấn). Không phải chỉ cọp Khánh Hòa hiền, nước non Khánh Hòa linh thiêng, người Khánh Hòa hồn nhiên mà ngay cả đến sóng thần, gió, bão, lũ lụt tới Khánh Hòa cũng... nghiêng về các nơi khác! Nhưng, đó cũng chẳng lấy làm vui vì hàng xóm láng giềng ta "lãnh đủ" thì ta đây nào có giấc ngủ ngon lành! Ước sao, hơn 85 triệu người Việt Nam trong 58 tỉnh và 5 thành phố lớn của ta đều... hiền như... cọp Khánh Hòa để thiên tai có đến cũng... biến thiên vào nơi vô tận...
7. Truyện kinh dị:
- "Thần Hổ" của Tchya (Đái Đức Tuấn - Mai Nguyệt): Gồm 3 chương (Biệt cố hương, Ma trành và Báo phục): Truyện kể về ba cha họ Đèo ở huyện Thạch Thành hợp tác đánh hổ khiến nó bị thương trầm trọn chạy trốn mất dạng. Sau đó đứa con trai đi ăn cổ mất tích: "Sau ba ngày tìm kiếm, Lầm Phá thấy xác anh nằm trong khe đá, bên cạnh một dòng suối nhỏ, thân thể bị nát bét, ruồi bọ bâu đầy, mùi hôi thối xông lên sặc sụa, ngạt mũi. KHi khám tử thi, Phá rất lấy làm kinh ngạc. Áo Mãnh vẫn còn lành lặn y nguyên, không rách. Chỉ có quần thì bị cắn nát, tơi tả ra từng mảnh, để lộ nửa người dưới ra ngoài. Nhờ sự rách quần ấy, Phá nhận rõ thấy anh mình bị một loài gì cắn mất hạ bộ. Và không những thế, sau khi vạch làn tóc rối loà xoà phủ kín mặt người chết, Phá lại nhận thấy Mãnh bị mất con mắt bên trái, ai đem móc ra và vứt đi tự bao giờ... Ông đoán không sai chút nào. Quả nhiên, con ác thú gần thành tinh kia chưa chết. Nó tuy bị một phen đau đớn cực điểm - mù một mắt, gãy hai ba cái răng, cụt mất dương vật và sứt mất mũi, - song nó khoẻ lắm, nó chống cự rất hăng hái với tử thần, với thương tích, nó chạy vào một khe núi sâu thẳm nằm dưỡng bệnh, nó cố bám lấy sự sống… Mỗi một con vật - không ai bảo mà biết - lại có riêng một thứ lá để dùng những khi có tật bệnh. Những thứ lá ấy toàn là vị thuốc rất nghiệm, rất hay. Người Mường tò mò đi theo vết chân khỉ đi hái thuốc, có tìm được một vài thứ lá ấy. Vì thế nên khoa thuốc Mường có nhiều môn bí hiểm nhưng rất tài tình. Nói tóm lại, con mãnh hổ xám kia nhờ được "hiền thê" nó săn sóc cho khỏi chết. Cũng là bởi số nó chưa đến ngày đoạn tuyệt, hoá nên quỷ thần xui khiến vợ nó không thè lưỡi liếm vào những vết thương của nó, nếu không tất nó bị gai lưỡi làm cho thối gia thối thịt mà thiệt thân, không tài gì cứu chữa được nữa. Con hổ xám phải nằm dưỡng bệnh trong hang mất hơn năm tháng. Qua khỏi cơn hoạn nạn, nó lại khoẻ mạnh như thường, nhưng nó đâm ra tàn ác không biết thế nào mà kể" (dactrung.net). Khi nào chúng ta bệnh, không cần đi bác sĩ, chỉ cần chịu khó lên nhà rông bản Mường năn nỉ họ chỉ dùm vài lá thuốc.
- "Chuyện râu cọp theo kiểu ta": Trong "Cọp trong y học cổ truyền", Nguyễn Thượng Chánh giải thích: "Trong dân gian Việt Nam, thường nghe nói đến huyền thoại về chuyện râu cọp làm chết người. Râu cọp cấy vào mụn măng non, khi măng già đi thì nơi cấy sẽ sinh sản ra một con sâu ỉa ra cứt đen. Đây là một loại độc tố vô cùng lợi hại. Chỉ cần lấy một tí phân bằng đầu cây tăm bỏ vô lu nước cũng đủ giết chết cả nhà người ta. Bạn có tin hay không? Riêng người viết chắc chắn là không tin rồi. Vì vậy, hễ mỗi khi vừa bắn hạ được một con cọp thì việc đầu tiên của người thợ săn có lương tâm phải dùng lửa thui hết các sợi râu quanh miệng con vật để kẻ gian ác không thể sử dụng làm thuốc độc để ám hại người khác (?)(vietbao.com). Nghe đồn chứ chẳng tin mấy mà ngay cả có ai dám thấy cũng chẳng dám thử đâu mà tin.
- "Con sâu, râu cọp": "Cách nay lối trên 90 năm, tại phía bắc giữa lưng chừng đèo Bánh Ít có gia đình vợ chồng nông dân và đứa con trai lối 12 tuổi. Năm đó với số tiền dành dụm mấy năm, họ thuê một toán thợ mộc cất nhà. Thợ mộc đến ở tại chỗ và chủ phải bao ăn uống cho đến khi xong việc. Trong thời gian thợ dựng nhà, thỉnh thoảng vài ba ngày chủ nhà làm con gà lớn đãi ăn, nhưng lần nào cũng vậy chỉ dọn lên vài dĩa nhỏ lối nửa con gà. Thợ lấy làm lạ không biết số thịt gà còn lại để làm gì mà không thấy vợ chồng chủ nhà ăn. Thắc mắc của họ được giải toả nhân một hôm vợ chồng chủ nhà có việc phải đi vắng một buổi. Đám thợ để ý lúc gần trưa thấy con trai của chủ nhà xách một gói bao bọc kỹ, ngó trước ngó sau rồi đi ra phía chân đèo sau nhà. Hai người thợ lén theo sau đứng rình. Thằng bé đến gần một gốc cây lớn khuất sau một hòn đá, cúi xuống kéo tấm mê tre trên phủ đầy lá khô qua một bên, rồi dở nắp miệng hầm nhỏ trút gói đồ xuống và đậy nắp lại. Hai người thợ liền chặn thằng bé lại hỏi thì nó ú ớ không nói ra lời, mặt nó tái mét. Dỡ nắp hầm ra, nhìn thấy một con vật lớn bằng con heo con, mình đầy lông, đang ăn thịt gà sống của thằng bé vừa trút xuống. Họ báo tin cho thợ trong nhà ra xem, biết đó là con sâu râu Cọp của vợ chồng chủ nhà nuôi để làm thuốc hại người, một việc làm vô nhân đạo mà chính quyền cấm. Đám thợ lấy nước sôi đổ xuống hầm giết con sâu, một mặt cho người đến báo cáo với Phủ Bình Khang (huyện Ninh Hoà ngày nay). Khi lính phủ đến bắt con vật lên thì đó chính là con sâu râu cọp thật to gần bằng bắp chân, mình đầy lông dài. Vợ chồng chủ nhà bị bắt. Với tang chứng rành rành không chối cãi được, phủ Bình Khang kết án người chồng mấy năm tù" (Nguyễn Man Nhiên web đd). Con râu này mà xổng hầm thì... tui chạy trước a! Con sâu này theo các "tác giả" trên: "Họ lấy râu mép của cọp cắm vào mụt măng tre một thời gian sanh ra con sâu… Cứt sâu phơi khô tán thành bột, dùng đầu móng tay chấm và bấm vào các thứ trái cây không có vỏ cứng hoăc lén bỏ vào khạp nước của người khác. Ỏ thôn quê nhà nào cũng có khạp nhỏ đựng nước ngọt để trước hiên, người nhà dùng và cho người qua đường uống giải khát. Họ chế thuốc giải độc, đưa cho người tin cẩn bán đắt tiền, không ai biết họ là tác giả". Cách "hạ độc" đã được báo chí đăng: "Khoảng năm 1950, một tờ báo hằng ngày ở Sài Gòn, tờ Sài Gòn Mới, đăng tin tại vùng nông thôn tỉnh Khánh Hòa có người làm thuốc độc hại người, bằng cách lấy cứt của một loại sâu lạ, phơi khô, tán thành bột, dùng đầu móng tay chấm bột đó vào trái cây. Họ đến các chợ, ghé vào dãy gánh trái cây giả vờ lựa mua rồi thừa dịp bấm đầu ngón tay có thuốc bột đó vào trái ổi, xoài, mận, vú sữa, đu đủ chín, thanh long… Ai ăn nhằm nhiều trái cây kể trên có thể chết ngay, ăn ít thì bị ho dữ dội dây dưa lâu ngày rồi cũng chết, chỉ có thuốc “giải” của người làm chất độc bào chế mới trị dứt chứng ho được".
Chiêu này cũng giống như chiêu "Đại dịch cúm H1N1" nhưng chẳng biết "tiên sư cha" đứa nào là tác giả mà... "tát tai"?!
- "Con sâu đỏ": Theo Lâm Chương kể về một người hầu cận "Bác Hồ" tên là Hai Say Lâm Say kể chuyện mang nước cho “Bác” rửa mặt, nhặt một cọng râu của “Bác”: "Họ nhét râu cọp vào mụt măng…. Lâu ngày, sợi râu sẽ hoá thành con sâu màu đen. Cứt của con sâu này là một thứ thuốc độc ghê gớm. Chỉ cần cho một viên cứt sâu nhỏ bằng đầu cọng tăm vào lu nước. Ai uống phải nước này, sẽ ngả ra chết liền…. Cậu nhốt nó trong một chiếc hộp nhỏ, đi đâu cậu cũng mang theo bên mình. Nhưng nó không chịu ăn, lừ đừ gần chết, cậu không biết làm sao để có thể nuôi nó lâu dài. Có lần, cậu vô ý làm đứt tay, một giọt máu tươi rớt vào trong hộp. Nghe mùi tanh của máu, nó như được hồi sinh và hút sạch giọt máu. Thế là cậu khám phá ra, con sâu đỏ này chỉ có thể nuôi bằng máu." "Cậu làm sao đủ máu mà nuôi nó hoài?" Anh tôi hỏi. "Phải có cách chứ. Ðâu thể trích máu của cậu mãi được. Ði với Bác lâu ngày, cậu cũng khôn ra. Nghĩa là tận dụng mọi thứ chung quanh, mà không hề làm tổn hại đến mình. Cậu bắt con đỉa hút no máu con trâu. Xong cậu cho con đỉa vào hộp. Con sâu đỏ hút lại máu từ con đỉa…. Mãi sau, có người biết được, tố giác chuyện này lên Bác Hồ. Bác ra lệnh tịch thu con sâu đỏ. Cậu giao nạp con sâu, nhưng vẫn còn sợ bị khép tội ăn cắp râu Bác Hồ, nên trốn về, không theo cách mạng nữa… Mùa Xuân năm Ất Mão, tôi tơi tả trở về làng cũ. Cậu Hai Say bây giờ, đã già lắm rồi. Cậu bảo: "Hãy chạy đi." Tôi hỏi: "Sao cậu không chạy?" "Với số tuổi của tao, bỏ thây không tiếc," "Cậu thường hay nói chơi. Không biết lần này cậu nói chơi hay nói thật. Nhưng đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không ở lại mà hưởng thái bình, còn chạy đi đâu?" Cậu ngước mặt lên trời, than: "Người ngu mắc nạn, thường hay đổ thừa cho thiên mệnh." Mười năm sau nữa, tôi ra khỏi tù, lại trở về làng cũ. Nghe nói, cậu Hai Say được cách mạng mời đi dự tiệc mừng Ðại Thắng Mùa Xuân. Và cậu đã chết ngay sau khi rời khỏi bàn tiệc. Tôi chợt nghĩ đến con sâu đỏ. Chẳng biết cái chết của cậu, có liên quan gì với cứt của loài độc vật này hay không?" (greenspun.com). Chuyện này không có khoa học kiểm chứng. Coi chừng "giả lộng thành chơn" a! Tác giả bài này mà xuất đầu lộ diện thế nào cũng bị công an "bẻ tay, bẻ chân, bứt tóc, móc con mắt"... chơi!
8. Truyện tranh: "RG Veda" (Thiên Thần Hổ Tướng) của Clamp (12 cô gái Nhật chuyên vẽ truyện tranh): "Three hundred years ago, the god of thunder, Taishakuten, rebelled against the Heavenly Emperor, killing both him and the guardian god Ashura-ō. With the help of Ashura-ō's wife Shashi, he usurped the throne and began his cruel reign as the new Emperor. However, a prophecy was made by the stargazer Kuyou, first to Ashura-ō and then to Yasha-ō: Six stars will fall to this plane... (Ba trăm năm trước đây, thần sấm sét, Taishakuten, nổi loạn chống lại Thiên Thiên, giết chết cả hai ông và người giám hộ thần Ashura-ō. Với sự giúp đỡ của Ashura-ō vợ của Sa, ông chiếm ngôi vua và bắt đầu triều đại của ông tàn ác như hoàng mới. Tuy nhiên, một lời tiên tri được thực hiện bởi các Kuyou stargazer, đầu tiên Ashura-ō và sau đó đến Yasha-ō: ì liên quan đến Ashura...). (fenopy.com). Đây là bộ truyện tranh hấp dẫn bởi tài năng và trí tưởng tượng tuyệt vời đáng cho chúng ta...thưởng thức trong sự ngưỡng mộ tài năng của bậc "yểu điệu thục nữ" không thua gì "Truyện tranh Doraemon - Đôrêmon" năm 1969 của hai tác giả người Nhật: Fujiko Fujio.
9. Truyền truyền thuyết:
- "Truyền thuyết về ông Ba Mươi và tục thờ Thần Hổ": Do Gia Long lập để nhớ ơn cọp nuôi mình lúc bị Tây Sơn theo đuổi. Khi thôn tính Tây Sơn: “vua ban lệnh cấm giết hổ. Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ thì bị phạt ba mươi trượng. Còn nếu bắt sống thì được thưởng ba mươi quan tiền. Cũng vì lệ này mà hổ còn được gọi là Ông Ba Mươi”. Có lẽ vì cọp ăn thịt người nhiều qúa thành yêu qủy nên dân gian mới thần thánh hóa như thế. Khi dân gian sùng bái người nào họ đều phong Thánh cho người đó. Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhân vật "hiển thánh" (chẳng ai thấy) và cọp có "cọp hiển linh" (chỉ tin đồn).
- "Cọp đi tu": "Ở núi lớn thuộc xã Thắng Nhì (Vũng Tàu) chợ Bến Đá có một ngôi đền,tục gọi là Điện Bà, rất linh thiêng… Một ngày nọ,có một vị du Tăng họ Trương từ Trung Bộ trên một chiếc ghe bầu cập bến ở vùng Núi Lớn… khi ông ta cất xong cốc thì cứ sáng chiều khi nhà sư gõ mõ tụng kinh thì hai vị chúa sơn lâm lại đến nghe kinh một cách đều đặn và rồi chúng không vào các thôn lân quanh vùng để bắt gia súc ăn thịt như trước nữa…. Hai con hổ ở tu luôn trong hai cái hang ấy.Một con ở đó mãi cho đến chết và một con khác bị lính Pháp bắn chết khi nó ra ngoài mé rừng.trong chùa nghe tin này liền đến xin xác về chôn trong cái hang cũ của nó,lại lấy đầu phơi khô để thờ trong chùa”. Cọp đi tu khác: “Tục truyền,khi vị Tổ khai sơn chùa Thiên Thai này đến đây thì Cô Sơn là một ngọn núi tứ bề là rừng hoang bao bọc. Ở phía chân núi có một thạch động là nơi ở của một con cọp trắng… Bạch hổ đi săn mồi trở về thạch động thấy có người thì gầm thét dữ dội.Tổ ôn tồn đề nghị với bạch hổ nhường nơi ấy cho ông để làm cốc thờ Phật. Nghe vậy,bạch hổ liền nguôi giận,gục gặc đầu mấy cái rồi bước đi. Truyện kể rằng cứ đến ngày rằm,ngày mồng một,bạch hổ lại trở về thạch động,nằm im trước cửa để nghe tiếng mõ tụng kinh.Người ta kể rằng,dường như bạch hổ từ đó cũng không ăn thịt nữa mà chỉ ăn mít chín,do vậy, mỗi khi bạch hổ đi đến đâu thì mùi mít chín thơm lừng cả một vùng quanh đó.Về sau,bạch hổ già chết ở trong một hang núi…Do vậy, đến nay, ở đây có lập miếu thờ bạch hổ….Hiện nay, di tích này vẫn còn" ("Nghìn năm bia miệng" - Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (Nxb.TP.HCM - 1993) (vnhuquan.com). Cọp đi tu cũng như giang hồ đại đạo đã "bỏ đao thành Phật", quý hóa thay!
- "Cọp ba chân đi tu": Ở Suối Đổ huyện Diên Khánh (Khánh Hòa). Gần đây, những người lên núi để chữa bệnh đều kể rằng có thấy bóng cọp hiện về nhưng chẳng làm hại ai. Cọp hung dữ mà cũng biết lắng nghe lời Kinh, hiền theo tiếng Mõ. Những kẻ ác cũng tới lúc phải "bỏ đao thành Phật", dứt "tâm hổ", xóa "tâm xà" là chuyện nên làm cho nhân loại hưởng cuộc thái bình.
10. Truyện ngụ ngôn cọp:
- "Tinh thần tàn phế": "Một người đi dạo trong rừng, thấy một con chồn cụt mất bốn chân. Anh tự hỏi làm sao nó có thể sống được. Bỗng anh thấy một con cọp đi đến, miệng ngậm mồi. Cọp ăn xong, để lại chút ít cho con chồn. Và cứ thế ngày này qua ngày khác, con chồn sống nhờ vào con cọp. Người ấy suy gẫm về sự quan phòng và tình yêu thương chăm sóc bao la của Thiên Chúa, rồi nghĩ: Tôi cũng vậy, tôi cũng sẽ nằm trong một góc nhà và phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa để Ngài lo liệu mọi thứ cần thiết cho tôi... Anh làm như thế trong một tháng và rơi vào tình trạng dở sống dở chết. Một hôm, anh nghe có tiếng nói: "Này con, con đang đi trên con đường lầm lạc. Hãy mở mắt ra để nhìn sự thật! Hãy noi gương con cọp chớ đừng bắt chước con chồn!" (Theo Anthony de Mello) Nguyễn Bửu Đồng (tiengnoigiaodan.net). Mọi thuộc tính xấu tốt đều có hai chiều tương tác. Noi gương con cọp nghĩa là "thảo ăn". Tính "thảo ăn" này có được cũng nhờ có người ăn, mình mới được chữ "thảo" chứ? Có người cho thì phải có người nhận. Có người hút, chích xì ke thì phải có người trồng cần sa, vận chuyển heroin chứ? Không có người trồng thuốc lá sao có người mua? Có người mua phải có người bán chứ? Không có mấy đại gia cọp muốn bổ "cái kia" sao có chỗ "hầm thai nhi", chế "cao hổ cốt" cho loại người cọp đó xơi? Không có kẻ mua dâm sao lại có loại bán dâm? Ngược lại... Vậy, chúng ta không nên học cả hai gương cọp và chồn. Thảo ăn, tốt bụng không dành cho người làm biếng như chuyện "Ve và Kiến" của La Fontaine.
- "Nghĩa Hổ": Kể chuyện ông Tú: "Đời vua Tự Đức, ở làng Long Phụng, tổng Hòa Quới, huyện Kiến Hòa” nuôi con cọp. Tới ngày ông Tú ra Huế, cọp bỏ nhà chạy theo “để dâng ông Tú ít lá và rễ cây thuốc đề phòng lam chướng dọc đường. Trở về nhà, cọp buồn rầu, biếng ăn biếng uống. Năm sau, ở Huế, ông Tú đau nặng. Nhờ số thuốc cọp dâng dọc đường, bệnh ông có thuyên giảm đôi chút, nhưng không qua khỏi. Khi người con trai được tin, ra tới nơi thì ông đã qua đời Ở nhà, cọp thường vào rừng bắt thú đem về để bà tú bán kiếm tiền chi dụng trong nhà. Bà Tú từ khi nghe tin chồng bệnh ngoài Huế thì trở nên buồn rầu, suy yếu rồi mất. Cọp thương xót bỏ ăn uống suốt mấy ngày liền. Thời gian sau, linh cữu ông Tú được chở về quê nhà bằng ghe bầu. Cọp đưa người con trai ông Tú ra thăm mộ bà mẹ. Đến nơi, cọp đập đầu vào gốc cây cạnh đó, tự vẫn. Dân làng cảm kích trước sự kiện trên, đã lo tống táng cho cọp và lập miếu thờ cạnh ngôi mộ của vợ chồng ông bà Tú tài. Trong miếu đề mấy chữ: "Nghĩa hổ huynh trưởng chi mộ" (bentre.gov.vn).
- "Sư tử, con Lang và con Hổ" (La Fontaine): Sư tử bị bệnh đau phong thấp bèn cho truyền các quan tìm lang y. Ai cũng tới chầu duy có con Hồ không thèm tới. Con Lang bèn xàm tấu. Con Hồ phải vào chầu vua Sư tử nhưng hiến kế lột da con Lang để trị bệnh. Con Lang muốn có tên trong sử sách nên chịu phép cho Sư tử lột da Lang may áo, thịt nướng chả ăn. Ngụ ngôn của truyện ám chỉ bọn quan lại triều đình nói riêng, nhân loài nói chung hễ có dịp là tìm cách giết hại lẫn nhau. Nhà Tây Sơn sau khi vua Quang Trung mất, con là vua Cảnh Thịnh non người, bé trí tin dùng Thái sư Bùi Đắc Tuyên nên triều đình lâm vào cảnh giết hại lẫn nhau dẫn tới nạn "diệt chủng tộc Tây Sơn" của Nguyễn Ánh.
- "Người giết cọp" (La Fontaine): Có người thợ vẽ bức tranh về một người nhỏ bé mà giết con cọp to lớn nên ai nấy đều "tấm tắc ngợi khen tài". Con cọp đi ngang qua thấy được. Nó vừa ngẫm ra người khỏe hơn cọp nhưng chê người thợ vẽ "điêu" và giá mà cọp biết vẻ, cọp sẽ vẽ tuyệt hơn và thật hơn. Vẽ như thế là "giết con cọp" lần thứ hai theo nghĩa ẩn dụ. Ý nói ngòi bút cũng biết "hoán đổi" "giả lộng thành chân" như cuộc đời. Vẽ tranh thêu dệt đều có thể cứu người và giết người. Giống như về cái mụt ruồi. Đời Hán có nàng Chiêu Quân vì không chịu đút lót cho tên họa sĩ Mao Diên Thọ nên hắn vẽ nàng thành người xấu xí khiến nàng không được vua để mắt tới. Tương truyền, Mao Diên Thọ khi vẽ Chiêu Quân đã ra tay ác điểm thêm trên mặt Chiêu Quân một nốt ruồi "thương phu trích lệ" (sát chồng) nên nàng vua bỏ rơi. Tự dưng sinh ra “coi tướng mụt ruồi” làm bao nhiêu kẻ ế chồng, ế vợ, tai tiếng, đau buồn hay hổ phận cũng vì mấy lão/bà thầy bói ra ma này ra cả. Ví dụ như nói mụt ruồi (đỏ hay đen) cũng không nên mọc trên mặt? Trời! Cha sinh mẹ đẻ ra thế chứ cái mụt ruồi nó biết chọn chỗ mọc ư? Theo khoa học, nốt ruồi là những u tế bào hắc tố lành tính có nhiều màu và ở trong thời kỳ "núi lửa đã ngủ yên", chúng ta không nên chọc núi lửa sống dậy trừ khi các nốt ruồi này bỗng dưng "thay hình đổi dạng" khác thường thì nên cắt bỏ bởi bác sĩ chuyên nghiệp trị... ruồi! Còn đẹp hay xấu vì mụt ruồi đã có câu chống lưng "Cái nết đánh chết cái đẹp". Đẹp mà tài hèn, đức mọn thì đẹp chỉ còn là miếng mồi con cho lũ... cọp đực mà thôi!
Đây là truyện bằng thơ của La Fontaine, chúng ta có thể tìm hiểu nguyên bản ở phần "Thơ về cọp".
11. Tiểu thuyết và truyện dài có... cọp"
- "The Jungle Book" - Joseph Rudyard Kipling (Nobel Prize in Literature 1907) - MacMillan - 1894: Chuyện về Mowgli - cậu bé rừng xanh mồ côi cha mẹ và được bầy sói nuôi và được bảo vệ bởi Bagheera - báo đen và Baloo gấu heo chống lại Shere Khan (cọp Bengal) hung dữ và trở về nơi loài người cư ngụ.
- "Life of Pi" của Yann Martel (Giải Man Booker - Man Booker Prize): Kể về cậu bé Piscine Molitor Patel (Pi). Trong lần chuyển vườn thú tới Canada, cậu lạc mất gia đình. Pi sống sót trên chiếc thuyền cứu hộ cùng một con hổ Bengal - Richard Parker, một con hải cẩu, đười ươi và ngựa vằn. Cả hai (chỉ còn Pi và cọp) trải qua một chuyến lênh đênh nguy hiểm để có thể trôi dạc vào bờ biển lạ.
- "Bạch Hổ tinh quân": Tiểu thuyết kiếm hiệp của Ưu Đàm Hoa (Trung Quốc).
- "Tám Nghệ vào hang cọp" của Nguyễn Hùng (Nxb Hachette - 1977) một chương trong "Bảy Viễn, Le Maitre de Cholon của Pierre Darcourt": Hang Cọp ở đây là chỗ nguy hiểm của hoạt động tình báo thời chiến tranh ở Việt Nam.
- "Of Tigers and Men" (Hardcover - 1997).
- "The White Tiger": (Cọp Trắng) của Aravind Adiga (giải Man Booker 2008): Nhân vật chính là Balram. Hắn từ một con gà trong "chuồng gà" tăm tối thoát ra ngoài bằng lối giết người để trở thành con cọp trắng (balram). Qua qúa trình tự giải thoát của nhân vật này, bộ mặt thật của xã hội Ấn Độ đã được phơi bày trước ánh sáng. Ở Việt Nam ta, khi nào có một cuốn tiểu thuyết "Cọp mun" để nhân vật từ "chuồng cọp" trở thành cọp đen (black tiger) đủ sức phơi bày một xã hội Việt Nam đang chìm ngập trong thời kỳ suy thoái đạo đức? Những tác phẩm này không thể sinh ra nếu còn nhiều đao phủ như trong “Sư tử, con Lang và con Hổ” của La Fontaine.
- "Hổ Trướng Khu Cơ" của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ với chủ đề quân sự học dạy các tướng lĩnh ở miền trong (chúa Nguyễn). Nó giống như "Binh thư yếu lược" của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn hay "Tâm thư" của Gia Cát Lượng Khổng Minh hoặc "Binh pháp Tôn Tử" của Tôn Vũ và "Tôn Tẫn binh pháp" của Tôn Tẫn... Những ai muốn giữ nước hay làm "cách mạng" nên luấn luyện “tướng sĩ tượng xe pháo mã” học theo cách hành binh này nhưng cẩn thận với "atom bomb" (bom nguyên tử) của khoa học gia Mỹ Robert Oppenheimer và "thermobaric bom" (bom áp nhiệt) của nữ khoa học gia Việt Nam Dương Nguyệt Ánh. May thay, bom khinh khí (thermonuclear weapons) mạnh gấp trăm ngàn lần đã không được tung ra, nếu không, tướng sĩ có thông thạo hết tất cả binh thư quân sự của thế giới cũng... "ngàn thu vĩnh biệt bất tái lai"!
- "Tyger Tyger" của Michael Hyde viết về cầu thủ bóng đá Johnny Carbone người Úc nổi tiếng giỏi như... cọp!
- "Hồi ký Bí Mật Trầm Hương" - Huyền Long - Hồng Thị có một chương kể lại qúa trình mưu sinh của mình (từ một anh văn công phục vụ Cộng Hòa trở thành di dân "Kinh Tế Mới" ở Khánh Vĩnh) đi tìm Trầm - Kỳ ở Khánh Hòa gặp... mấy ổng!
Trong di sản văn học nhân loại, mảng "văn học cọp" cũng lắm điều thú vị, nhiều cái ngẫm suy...
III. Cọp trong văn học:
1. Thơ cọp:
- "Nhớ rừng" của Thế Lữ: Nguyễn Thứ Lễ (1907 - 1989) là một trong trong những cây bút chủ lực của báo Phong Hóa (Tự Lực Văn Đoàn).
NHỚ RỪNG
Tặng Nguyễn Tường Tam
(Lời con hổ ở vườn Bách thú)
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu (điều) oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bày cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
*
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng.
Lượt tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết (biết) chúa tể cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi.
*
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
*
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những vảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăn, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u
*
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta dương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
("Mấy vần thơ" - Nguyễn Thế Lữ, Tự Lực Văn Đoàn – 1935?- 1941?)
Tiếng nói của con hổ bị nhốt trong tù tiếc thời "oanh oanh liệt liệt" ứng vào các anh hùng hào kiệt cũng một thuở "liệt liệt oanh oanh". Tiếng nói của con hổ trong tù cũng chính là tiếng nói đòi tự do. Môi trường nào, con vật đó, con người đó! Phải chăng tự do chỉ còn là tiếng "cuốc vọng năm canh" cho mọi kiếp đời "Quẩn quanh hai thước rưỡi tưởng tự do? Vách làm áo ngày đêm thân trong rọ"? Về "giấy khai sinh" của “Nhớ rừng”, có ý kiến cho rằng: "Thế Lữ chỉ có thi phẩm độc nhất là "Mấy vần thơ" xuất bản năm 1935, rồi do nhà Đời Nay Hà Nội tái bản dưới tên " Mấy vần thơ tập mới" năm 1941; năm 1962 lại được tái bản kì nhì tại Saigon. Bài thơ " Nhớ rừng" được tác giả sáng tác năm 1936. Vậy, bài thơ này in trong tập thơ " Mấy vần thơ tập mới", xuất bản năm 1941" (vn.answers.yahoo.com). Như vậy, theo ý kiến trên, "Nhớ rừng" không có trong ''Mấy vần thơ xuất bản năm 1935" bởi vì "Nhớ rừng' được tác giả sáng tác năm 1936" nghĩa là ra đời sau "Mấy vần thơ" một năm. Trong "Việt Nam thi nhân tiền chiến", Nguyễn Tấn Long ghi rõ năm 1936 nhưng với "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh - Hoài Chân chỉ ghi: "Mấy vần thơ tập mới" mà không có năm sinh. "Bách khoa toàn thư" có ý kiến rằng: "Năm 1936 tờ Phong Hóa bị đóng cửa vì Hoàng Đạo viết bài châm biếm Hoàng Trọng Phu. Tờ Ngày Nay, trước ra kèm với Phong Hóa, tiếp tục và kế tiếp Phong Hóa. Tháng 12 năm 1936 trên báo Ngày Nay, Nhất Linh cùng nhóm Tự Lực Văn Đoàn phát động phong trào Ánh Sáng, một tổ chức từ thiện với mục đích cải tạo nếp sống ở thôn quê, trong đó có việc làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo…. Bài thơ Nhớ rừng gây tác động mạnh mẽ lên công chúng, cùng các bài thơ nổi tiếng khác sau đó như Cây đàn muôn điệu, Tiếng sáo thiên thai..., được đăng trên Phong hóa, sau này được tập hợp lại trong tập thơ đầu tay Mấy vần thơ (1935) đã góp phần đem lại thắng lợi hoàn toàn cho phong trào Thơ mới, cũng như đưa ông trở thành một nhà thơ tiêu biểu của Thơ mới thuở ban đầu" (vi.wikipedia.org). Như vậy, "Nhớ rừng" làm trước 1936 - không thể trước năm 1932 vì năm 1932, ông mới nhập vào Phong Hóa nên mới có chuyện "sau này được tập hợp lại trong tập thơ đầu tay Mấy vần thơ (1935)". Thật là nghịch lý, cũng cùng web này, họ viết: "Trước khi về Hải Phòng, Thế Lữ làm người sửa bản in cho báo Volonté Indochinoise (Ý muốn của Đông Dương), thường đi làm qua Vườn bách thảo Hà Nội, thời gian này ông đã viết bài thơ nổi tiếng. Nhớ rừng. Sau khi trở về Hải Phòng được mẹ cho dựng một căn nhà lá cạnh Đồ Sơn để chữa bệnh, Thế Lữ bắt đầu tập trung vào viết văn và làm thơ. Một trong những bài thơ đầu tiên của ông là Lời than thở của nàng Mỹ thuật và Lựa tiếng đàn để gửi cho các bạn trường Mỹ thuật ở Hà Nội. Ông còn viết cả truyện lãng mạn, ví dụ như Suối lệ, đã được đăng trên một vài tờ báo cũng như sách của Tân Dân. Sau khi tờ Phong hoá (bộ mới) ra mắt (tháng 9 năm 1932) Thế Lữ đã chào đón và gửi bài". Như vậy, cùng một bài viết, khi thì cho bài thơ sinh năm 1936, khi thì cho sinh trước 1932? botay.com! Thế Lữ đề “tặng Nguyễn Tường Tam” là có ý gì? Nếu bài thơ làm trước 1932 thì lời con hổ bị nhốt trong chuồng ám chỉ ai? Cái gì? Không rõ ràng. Nếu bài thơ làm sau năm 1932 tới 1935 (thời "Mấy vần thơ" ra đời) cũng chẳng ám chỉ ai cả. Về đầu mục, Phạm Thiên Thư đăng nguyên câu "Tặng Nguyễn Tường Tam" trước câu "Lời con hổ ở vườn Bách Thú" (phamthientho.wordpress.com). Xét về mặt trích bản gốc, các nhà nghiên cứu và nhà xuất bản đã vi phạm tính "nguyên bản" của tác phẩm. Đó không phải là cách làm của những nhà nghiên cứu và nhà xuất bản "chân chính". Nguyên do các ông/bà lượt bỏ câu "Tặng Nguyễn Tường Tam" vì Nguyễn Tường Tam chính là Nhất Linh - thủ lĩnh Tự Lực Văn Đoàn và cũng là người của "Việt Nam Quốc Dân Đảng" (ra đời năm 1927, Đảng trưởng là Nguyễn Thái Học) - một tổ chức đối lập với chính quyền "Việt Minh" (thành lập năm 1941 do Nguyễn Ái Quốc cầm đầu) chăng? Hay lý giải vì Thế Lữ sau này theo Việt Minh nên không muốn dính líu tới "Quốc Dân Đảng" mà tự mình loại câu đề tặng ra khỏi bài thơ là cũng chưa thật đúng bởi vì Thế Lữ sau năm 1945 mới theo kháng chiến chống Pháp và làm Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tận năm 1957 tới 1977. Trong khi đó, bài thơ làm năm 1936 hay trước đó, in trong "Mấy vần thơ" năm 1941 chưa dính líu gì tới Việt Minh cả. Tìm hiểu về năm tháng và câu thơ đề tặng, chúng ta mới hiểu được hết nội dung của loại thơ ngụ ngôn này. Sau "Thế chiến thứ nhất" (1914 - 1918), thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách "khai thác thuộc địa" ở Đông Dương đã đưa nền văn hóa phương Tây thâm nhập Việt Nam. "Phong trào Thơ Mới" (1930 - 1945) ra đời thay thế thể thơ Tàu đầy những thể thức Vần, Luật gò bó. Xét về nội dung bài thơ, chúng ta có hai ý tưởng:
Một: "Nhớ rừng"... sinh năm 1930 - 1935: Nuối tiếc dùm về thời vàng son "võng anh đi trước, võng nàng theo sau" của cửa Khổng, sân Trình mà thế hệ nho gia vẫn chưa quên lãng, Thế Lữ đã ví thơ cũ như con cọp lỗi thời nên bị nhốt trong củi sắt mà vẫn chưa chịu mất cái dũng khí trời ban.
Hai: "Nhớ rừng"... sinh năm 1936: Thế Lữ tiếc cho tờ báo Phong Hóa bị đóng cửa năm 1936 khác nào như con hổ bị giam cầm. Đề tặng Nguyễn Tường Tam cũng như đề tặng "linh hồn" tờ "Phong Hóa". Đình bản tờ Phong Hóa chẳng khác nào nhốt con hổ Nguyễn Tường Tam vào củi sắt?
Hiểu theo khía cạnh dễ hiểu nhất là kết hợp cả hai: Tiếc thời thơ cũ và tiếc tờ Phong Hóa (đã góp phần "cách tân" thơ Việt Nam giã từ lối cũ). Một bài thơ ngụ ngôn không phải chỉ hiểu theo nghĩa đen. Thế Lữ không hề có giai đoạn nào bị giam cầm và tài năng của ông trên các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật chưa bao giờ bị "giam nhốt" như con hổ. Nguyễn Tường Tam và nhóm "Tự Lực Văn Đoàn" vào thời điểm này cũng chưa có ai bị ở tù. Trên phương điện tác phẩm có giá trị văn học được in ấn, chúng ta không bỏ sót bất cứ một từ nào của nguyên bản và cũng đừng mang... cọp vào đấy để nó... vồ nuốt bớt từ ngữ, câu chữ và ý nghĩa và... ị ra phân dù cho phân cọp có là bài thuốc thì vẫn cứ là phân cọp. Chúng ta sẽ trở lại bài “Nhớ rừng” trong một chuyên luận phân tích, bình giảng tác phẩm văn học. Nếu có thể, chúng ta cũng không ngần ngại phong “bát hổ tướng” cho 7 nhà thơ “thủ lĩnh” của phong trào Thơ Mới (1930 – 1945): Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính và Chế Lan Viên.
- * "DẦN TRẦN"
(Tặng nhà văn Nam Dao, tác giả cặp chữ “Cọp ngày” để gọi yêu thi sĩ tuổi dần Trần Dần)
Nghìn năm bất phục
Thu thế ngồi
Một trời
Một bóng
DẦN
Nghìn năm thét gầm
Quánh lại như câm
Một dòng
Một chữ
TRẦN
Những con chữ mãnh hổ
Dựng chồm
Tá hỏa tớ thầy bầy bóp cổ văn chương.
Đà Lạt 8.3.2008
Bùi Minh Quốc (hoiluan.vanhocvietnam.org).
Đây là bài thơ dạng "phản hồi" sau bài viết "Cọp ngày" của Nam Dao (Nguyễn Mạnh Hùng) tiếc nhớ nhà thơ thân bại nhưng danh không liệt: Trần Dần. Bài thơ tư do ngắn gọn đầy súc tích của Bùi Minh Quốc đã tóm lược hết chất "tinh túy" của con mãnh hổ hóa thân kiện tướng Trần Dần: Bất phục trong thét gầm cô đơn (chẳng có đồng minh) có khi “câm – quánh” (chữ dùng rất “đắc”) im lặng để tìm phương cách và rồi phóng ra vồ đối thủ (chứ không phải vồ người) khiến cho đối phương sử dụng hạ sách… “bóp cổ”... chia theo "Thời quá khứ - hiện tại - tiếp diễn"... Thành ra nghêu ngao rằng:
Có miệng nhưng không được nói
Có nói cũng phải nói theo
Có theo nên theo cán bộ
Có mổ hãy mổ đồng nghiệp
Có khiếp thì khiếp chính sách
Có thách nên thách... kiếp sau!
Hổ……………………………!
- "Nỗi buồn" của Lê Thị Mây:
Hãy ngủ yên nỗi buồn
Như con cọp rình mồi tháng chạp
Ngủ yêu trong lau sậy lòng tôi
Ôi! "nỗi buồn" mà "như con cọp rình mồi" thì thiệt đúng là "thân đàn bà" mà hồn... “bà la sát!". Tác giả tuổi Kỷ Sửu này đã mang nuỗi buồn “thân trâu” bỏ đầy thơ mình trong "Sông làng", "Những mùa trăng mong chờ" và cả khi "Dịu dàng" - những bài thơ đầy nữ tính. Sao “đại tỷ tỷ” không mang nỗi buồn xưa ấy thả vào… mây?
- "Gửi em... cô gái Bình Long" ("Chào cô em gái... Biệt kích dù"):
Nhớ theo Hổ Xám vào An Lộc
Đội pháo trên đầu như đội mưa
Múa kiếm đứng ngăn thù cửa Bắc
Mà tưởng mình là Nguyễn Huệ xưa.
Trong tiếng đạn reo mù khói trận
Bỗng gặp em, cô giáo như mơ
Em ngồi rũ tóc trong hầm tối
Đọc tiếng kinh cầu, như đọc thơ".
"Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Chúa ơi, Biệt Kích là thi sĩ
Thi sĩ cầm gươm như đi chơi".
"An Lộc địa sử lưu chiến tích
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân"
Lời thơ hôm ấy sao hay quá
Nghĩa trang buồn như tiếng lá rơi.
Pha hỡi, bây chừ em đâu nhỉ ?
Cô giáo hôm xưa đã lấy chồng ?
Chúc em hạnh phúc răng long bạc
Còn anh hôm nay vào Phước Long.
Anh theo quân vào nơi hiểm địa
Hét tiếng xung phong đến vỡ trời
Bắn cháy xe tăng như uống rượu
Mà tưởng em đang rót chén mời.
Bóng địch chập chùng nơi cửa ngõ
Ba trăm quân đánh một sư đoàn
Mãnh hổ nan địch quần hồ bại
Anh thối binh về mà thấy oan.
Nửa chừng lại gặp cơn bão lửa
Toán Delta bị kích giữa đàng
Ôi lại Phước Long lưu chiến tích
Anh bị trúng đạn giữa rừng hoang.
Và chừ giờ đang ngồi bó gối
Tay xích chân xiềng trong trại giam
Máu bụng vẫn tuôn ra như suối
Anh biết mình thôi thế là tan.
Nhưng giây phút cuối anh vẫn nhớ
Màu áo hoa dù nón mũ xanh
Nhớ dáng em xưa cô giáo nhỏ
Họa bút thành thơ như tiếng oanh.
"Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lại chinh chiến kỷ nhân hồi"
Xá gì một cõi đi về đất
Biệt Kích lưu danh, Biệt Kích đời".
(vlink.com)
“Máu bụng vẫn tuôn ra như suối” mà tên hảo hán kia còn… chơi tới 11 đoạn thơ? Xời! Nếu anh hùng không đổ ruột ắt chơi nguyên… toa xe lửa thơ! Đúng là "anh hùng nan qúa mỹ nhân quan" (anh hùng khó qua cửa ải gái đẹp)! "Trận An Lộc" (1972) diễn ra giữa hai lực lượng Cộng Sản và Cộng Hòa ở tỉnh Bình Dương với thắng lợi của quân Cộng Hòa trong 7 lần tấn công (gần 2 tháng) và cũng gặp tổn thất nặng nề khi nhiều "hổ xám" đã bỏ mình tại đây. "Chiến dịch đường 14 Phước Long" (Sài Gòn - Gia Định) chỉ trong 1 tháng 5 ngày đã mở đường cho... cuộc di tản 1975. Anh chàng biệt kích rằn ri này có phải là một trong gần 2.500 tù binh sau trận đánh không cân sức ấy chăng mà:
Bài thơ nhuộm máu toàn thân
Nửa phần "hổ xám", nửa phần "kỷ nhân".
Trí - Nhân, Nguyễn Huệ vẹn phần
Ai mà được vậy vinh thân tự hào.
Hai câu thơ gần cuối của “hổ xám” khiến cho chúng ta liên tưởng đến Vương Hàn thời Đường với "Lương Châu Từ":
凉 州 词
葡 萄 美 酒 夜 光 杯,
欲 飲 琵 琶 馬 上 催.
醉 臥 沙 場 君 莫 笑,
古 來 征 戰 幾 人 回
Lương Châu từ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
(pagesperso-orange.fr)
Nghĩa là "Chiếc ly dạ quang được đổ đầy rượu nho ngon tuyệt, vừa muốn say sưa một phen, đột nhiên tiếng đàn tì bà tưng bừng vang từ trên lưng ngựa xuống như thôi thúc tướng sĩ cùng cạn ly. Dừng chê cười dù có say nằm lăn trên sa trường. Từ xưa tới nay, người đi chinh chiến mấy ai sống sót trở về". Lẽ ra, tác giả “hổ xám” nên bắt chước Linh Phương trong “Kỷ vật cho em”: "em hỏi anh bao giờ trở lại?..." Sao bây giờ, bài thơ ngược lại "anh hỏi em...?". Xưa nay, thân phận chiến binh xông pha lằn tên mũi đạn đều làm kẻ ở lại lệ rơi...mhậm ngùi...
- "Truyện Kiều" của Nguyễn Du: Ai mà chẳng thuộc dăm câu: Thúy Kiều gặp cái ghen "miệng hùm nọc rắn" của Hoạn Thư:
Thân ta ta phải lo âu,
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này.
Ví chăng chắp cánh cao bay,
Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa!
Nguyễn Du tái hiện một Từ Hải "mày hùm" tướng hổ khi gặp Thúy Kiều:
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Từ Hải đã mở "trướng hùm" xử tội phạm, giúp Kiều "báo ân, báo oán":
Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.
Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Vãi Giác Duyên nghe Tam Hợp Đạo Cô kể lại nỗi truân chuyên vào hang cọp, kề "răng hùm" của Kiều:
Hết nạn ấy đến nạn kia,
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.
Trong vòng giáo dựng gươm trần,
Kề răng hùm sói gởi thân tôi đòi.
"Hùm thiêng" Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến "Hùm sa lưới bẫy cả tin, để Hồ Tôn Hiến đem tình giỡn chơi":
Ðang khi bất ý chẳng ngờ,
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn.
Tử sinh liều giũa trận tiền
Dạn dày cho biết gan liền tướng quân.
- "Tây Tiến" của Quang Dũng:
TÂY TIẾN
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Phù Lưu Chanh 1948
Quân đi gian khổ chí chẳng chùng:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Sức quân “Tây tiến” mạnh tựa hùm:
Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
"Tây tiến" là tiến về phía Tây Bắc đánh quân Pháp. Đoàn quân này là Trung Đoàn E52 (hầu hết là thanh niên Hà Nội và một số trí thức cũng như hia khối công - nông) được thành lập năm 1947. Trong "Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947", quân Pháp (Jean Étienne Valluy chỉ huy) và Việt Minh (Võ Nguyên Giáp chỉ huy) đã đánh nhau ở Thượng Lào và Tây Bắc. Trung Đoàn E52 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Việt - Lào phá quân nhảy dù Pháp. Mường Hịch là Mai Hịch và Mường Cháy có phải?. Bây giờ là huyện Mai Châu của tỉnh Hòa Bình. Bài thơ có hai từ "hùm" và "cọp" này ở đâu cũng có. Nó nổi tiếng với "quân xanh màu lá dữ oai hùm" một thời làm tác giả đưa tay chịu còng!
- Thơ họa "bút chiến" có "hùm, cọp":